10 món ăn Nhật nổi tiếng tại Việt Nam mà ai cũng biết

Nhật bản đâu chỉ nổi tiếng vì mỗi sushi hay sashimi 😉 Hãy cùng Bò khám phá 10 món ngon xứ sở Phù Tang nhé !

1. Sashimi
sashimi
Sashimi được cắt thành từng lát mỏng có chiều rộng khoảng 2.5 cm, chiều dài 4 cm và dày chừng 0.5 cm, nhưng kích cỡ có thể khác nhau tuỳ vào loại nguyên liệu và người đầu bếp, ăn cùng với các loại nước chấmnhư xì dầu, tương, các loại gia vị như wasabi, gừng và một số loại rau nhất là tía tô, bạc hà và củ cải trắng thái chỉ hoặc một số loại tảo biển.
Cũng có thể nói sashimi là “cắt thịt tươi sống ra để ăn”. Nguồn gốc tên gọi theo nghĩa đen này có thể bắt nguồn từ phương pháp thu hoạch truyền thống. Cá có “tiêu chuẩn sashimi” được bắt bằng các dây câu riêng biệt, ngay sau khi bắt được cá, người ta dùng một cái đinh nhọn đâm xuyên óc cá làm cho cá chết ngay lập tức, sau đó xếp cá vào đá xay. Quá trình này gọi là Ike jime. Vì cá chết quá nhanh như thế nên thịt nó chỉ chứa một lượng rất nhỏ axít lactic, do đó thịt cá ướp đá sẽ giữ tươi được khoảng 10 ngày mà không bị ươn, ngược lại nếu cá chết từ từ thì chất lượng sẽ giảm sút.
2. Sushi

sushi

Là biểu tượng của ẩm thực Nhật, sushi không chỉ là một món ăn đơn thuần mà nó còn chứa đựng cả một phần văn hóa Nhật Bản trong đó. Món sushi đầu tiên xuất hiện cách đây khoảng 1300 năm. Cho đến nay, “họ hàng” của sushi đã lên tới hàng trăm món khác nhau với rất nhiều cách thức chế biến cầu kỳ và phức tạp.

3. Onigiri.
simple-onigiri-rice-ball-snack-13
O-nigiri (お握り hay là 御握り; おにぎり), còn gọi là o-musubi (お結び; おむすび), nigirimeshi (握り飯; にぎりめし) là cơm nắm của người Nhật. Nó thường có hình tam giác hoặc bầu dục và được phủ tảo biển (nori). Theo truyền thống, onigiri có chứa umeboshi (mơ muối), shake (cá hồi muối), katsuobushi hay các thành phần được muối hay chua khác. Onigiri vừa có tính cơ động, vừa tiện lợi trong việc bảo quản cơm.

4. Okonomiyaki.

okonomiyaki
Okonomiyaki là món ăn sử dụng bột mì đã hòa trộn các nguyên liệu hải sản và rau vào nước, rồi nướng trên một bàn nướng Teppan, sau đó chấm với nước sốt để ăn. Có hai loại Okonomiyaki nổi tiếng ở hai vùng khác nhau: đó là Okonomiyaki vùng Kansai – là loại bánh xèo được chế biến bằng cách trộn đều bột mì với các nguyên liệu rồi đem nướng, và Okonomiyaki vùng Hiroshima – loại bánh được xếp lên bàn nướng mà không trộn bột với nguyên liệu.

5. Takoyaki.

photo_original_takoyaki

Đó là một món ăn có nguồn gốc Osaka, bằng cách bỏ một miếng bạch tuộc nhỏ vào trong bột mì và nặn hình cầu có đường kính khoảng 3cm~5cm, rồi đem nướng. Điểm bí mật được ưa thích là ngoài bạch tuộc, người ta bỏ những thứ như bột Tenkasu, hành lá, gừng đỏ, sau đó đem nướng ở trạng thái phần da bên ngoài mỏng và hơi cứng, bên trong thì dày như món Monjayaki. Phần chủ đạo trên bề mặt là nước sốt được phết lên, thông thường cá ngừ bào và rong biển sẽ được phủ lên trên, tùy vào ý thích mà bạn có thể thêm Mayonnaise vào đây.

6. Dorayaki.
751px-Dorayaki

Dorayaki (tiếng Nhật: どら焼き, どらやき, 銅鑼焼き, ドラ焼き) là một thứ bánh cổ truyền Nhật Bản. Nó có hình dáng giống như bánh bao, bao gồm 2 lớp vỏ bánh tròn dẹt làm từ bột, phết mật ong, được nướng lên và bao lấy nhân thường làm từ bột nhão đậu đỏ. Ngày nay người ta có thể làm nhiều loại nhân (chocolate, chuối, đậu đen…) nhưng nhân đậu đỏ là loại nhân đặc trưng nhất [1][2] Ban đầu loại bánh này chỉ có một lớp, hình dạng như ngày nay là do Ueno Usagiya sáng tạo ra vào năm 1914 [3]. Trong tiếng Nhật, Dora (銅鑼) có nghĩa là cồng, chiêng, và tên gọi của loại bánh này có lẽ cũng bởi nó giống với những nhạc cụ này. Truyền thuyết kể rằng một samurai có tên Benkei đã bỏ quên chiếc chiêng (dora) của anh ta khi rời khỏi nhà của một người nông dân, nơi anh ta ẩn náu. Người nông dân sau đó đã dùng chiếc chiêng bị bỏ lại chiên ra những chiếc bánh, và từ đó gọi chúng là Dorayaki.

7. Ramen.

Soy_ramen
Ramen ( /ˈrɑːmən/) (ラーメン rāmen, IPA: [ɽaꜜːmeɴ]) là một món ăn của Nhật Bản. Nó bao gồm mỳ sợi kiểu Trung Quốc phục vụ cùng một loại nước dùng từ thịt- hoặc (đôi khi) từ cá, thường thêm hương vị từ nước tương hoặc miso, và bày thêm đồ ăn kèm như thịt lợn thái lát (チャーシュー chāshū), rong biển (海苔 nori) sấy khô, menma (メンマ menma), và hành lá (葱 negi). Gần như mọi khu vực ở Nhật Bản đều có biến thể ramen của mình, từ món tonkotsu (nước dùng từ xương lợn) ramen của Kyushu tới món miso ramen của Hokkaido.

8. Udon.

Kitsune-Udon-II
Udon là một loại mì được làm từ bột lúa mì, sợi khá dày, dày nhất trong các loại mì ở Nhật. Sợi mì có đường kính thông thường khoảng 1 cm, cỡ bằng một cây đũa. Tuy nhiên, ở Nhật có rất nhiều biến tấu về sợi mì udon. Món mì Udon truyền thống và cơ bản nhất của người Nhật là món Kake-udon. Kake có nghĩa là chan lên, nghĩa là chỉ có chan nước dùng vào mì, không thêm thứ khác.

9. Soba.
soba

Mì Soba là món mì truyền thống của Nhật Bản được làm từ kiều mạch, cùng với Sushi, Tempura làm nên những món ăn tiêu biểu của Nhật Bản. Các loại mì Soba phát triển đa dạng từ mì nóng đến mì lạnh, loại Morisoba hay Yazarusoba cũng rất phổ biến. Nếu có những nhà hàng đặc thù về Soba, thì cũng có loại mì Soba ăn đứng, và loại mì ly chỉ cần đổ nước sôi vào là có thể thưởng thức. Chúng được bày bán và trở thành một trong những món ăn đang tồn tại trong đời sống ẩm thực của người Nhật.
Loại mì có sử dụng kèm với Nori (rong biển) gọi là Zarusoba, loại không sử dụng Nori là Morisoba.

10. Somen.
20110812-somen-2

Sōmen (素麺 âm Hán Việt: tố miến) là loại mì của Nhật Bản nhỏ sợi rất mảnh (đường kính không quá 1.3 mm) làm bằng bột mì và nước muối. Loại mì này thường dùng ăn lạnh. Đường kính nhỏ chính là đặc điểm phân biệt các loại mì của Nhật Bản cho dù hiyamugi và udon cũng làm bằng bột mì nhưng sợi to hơn. Cách làm somen cũng như các loại mì khác là bằng cách kéo giãn bột. Mỗi lần kéo thì mì càng nhỏ sợi. Đối với somen cần phải hơn 30 đợt trong 36 giờ đồng hồ. Sau đó, mì còn phải giữ trong kho 1 đến 2 năm để chín và ngấu, sau đó mới được mang ra ăn.

Sōmen thường dùng lạnh vì được chan với nước đá kèm theo chút rau xanh, các loại củ quả hay các loại thịt khác nhau và chấm với một loại nước chấm nhạt gọi là tsuyu. Tsuyu thường là một loại nước chấm làm từ katsuobushi (một loại cá ngừ khô) có thể được pha thêm hương vị hành ta, gừng hoặc myoga. Vào mùa hè, mỳ Somen ướp lạnh được xem là một món ăn giúp “giải nhiệt cuộc sống”. Ngoài ra, Món mỳ Somen còn được trình bày và thưởng thức một cách cầu kì với rất nhiều các hương vị khác nhau tuỳ thuộc vào khẩu vị thực khách.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s